Giá vốn hàng bán là gì? Giá vốn hàng bán gồm những gì?

0
4539

Giá vốn hàng bán là gì? Thời điểm nào ghi nhận giá vốn hàng bán? Phương pháp nào dùng để tính giá vốn hàng bán?

Kế toán Excel sẽ chia sẻ toàn bộ những thông tin trên trong bài viết dưới đây.

Giá vốn hàng bán là gì?

Giá vốn hàng bán (tiếng Anh là Cost of Goods Sold – COGS / Cost of Sales – COS) là chi phí trực tiếp để sản xuất hàng hóa bán ra của một doanh nghiệp.

Giá vốn hàng bán bao gồm các chi phí về nguyên vật liệu, tiền nhân công trực tiếp sử dụng để tạo ra hàng hóa, nó không bao gồm các chi phí gián tiếp như chi phí tiếp thị, phân phối sản phẩm và bán hàng.

Giá vốn hàng bán được sử dụng để tính lợi nhuận gộp và tỷ suất lợi nhuận gộp. Nếu giá vốn hàng bán cao -> tỷ suất lợi nhuận thấp.

Giá trị của giá vốn hàng bán sẽ thay đổi tùy thuộc vào các chuẩn mực kế toán sử dụng để tính toán.

Ví dụ: Giá vốn hàng bán của một nhà sản xuất ô tô sẽ bao gồm chi phí vật liệu cho các bộ phận sản xuất ô tô cộng với chi phí lao động được sử dụng để lắp ráp ô tô. Chi phí gửi xe đến các đại lý và chi phí lao động được sử dụng để bán xe sẽ không được tính vào giá vốn hàng bán.

Ngoài ra, chi phí phát sinh của những chiếc xe không được bán trong năm sẽ không được tính vào giá vốn hàng bán, cho dù chi phí này là trực tiếp hay gián tiếp. Nói cách khác, giá vốn hàng bán bao gồm chi phí trực tiếp sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ được khách hàng mua trong năm.

Công thức tính giá vốn hàng bán

Công thức tính giá vốn hàng bán như sau:

COGS = Giá trị hàng tồn kho đầu kì + Hàng mua trong kì – Giá trị hàng tồn kho cuối kì

Trong đó:

  • Hàng tồn kho được bán xuất hiện trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo tài khoản giá vốn hàng bán.
  • Hàng tồn kho đầu năm là hàng tồn kho còn lại từ năm trước (hàng hóa chưa được bán trong năm trước).
  • Bất kỳ hoạt động sản xuất hoặc mua hàng bổ sung nào do một công ty sản xuất hoặc bán lẻ thực hiện đều được thêm vào hàng tồn kho ban đầu.
  • Vào cuối năm, các sản phẩm không bán được sẽ trừ vào tổng hàng tồn kho đầu năm và các khoản mua bổ sung. Con số cuối cùng thu được từ phép tính là giá vốn hàng bán trong năm.

Lưu ý: Mục hàng tồn kho thuộc tài khoản tài sản lưu động trong bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh tình hình tài chính của công ty vào cuối kỳ kế toán => Giá tị hàng tồn kho được ghi nhận theo tài sản lưu động là hàng tồn kho cuối kỳ. Vì hàng tồn kho đầu kỳ là hàng tồn kho mà công ty có vào đầu kỳ kế toán => Hàng tồn kho đầu kỳ cũng là hàng tồn kho cuối kỳ của công ty vào cuối kỳ kế toán trước.

Ý nghĩa của giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán là một chỉ số quan trọng trên báo cáo tài chính vì nó được trừ vào doanh thu của một công ty để xác định lợi nhuận gộp.

Lợi nhuận gộp là một thước đo khả năng sinh lời nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của một công ty trong việc quản lý lao động và vật tư trong quá trình sản xuất.

Vì giá vốn hàng bán là chi phí kinh doanh nên nó được ghi nhận trong chi phí kinh doanh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Giá vốn hàng bán giúp các nhà phân tích, đầu tư và quản lý có thể ước tính lợi nhuận của công ty. Nếu giá vốn hàng bán tăng, thu nhập ròng sẽ giảm. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp sẽ có ít lợi nhuận hơn cho các cổ đông của mình. Do vậy, các doanh nghiệp cố gắng giữ giá vốn hàng bán ở mức thấp để lợi nhuận ròng được cao hơn.

Các phương pháp tính giá vốn hàng bán

Giá trị vốn hàng bán phụ thuộc vào phương pháp tính giá hàng tồn kho được công ty áp dụng.

Hiện nay có 3 phương pháp mà một công ty có thể sử dụng để ghi nhận hàng tồn kho đã bán trong kỳ bao gồm:

  • Phương pháp nhập trước (First In, First Out – FIFO)
  • Phương pháp Nhập sau, Xuất trước (Last In, First Out – LIFO)
  • Phương pháp chi phí trung bình (The Average Cost Method)

Cụ thể các phương pháp này như sau:

  #1 FIFO – Nhập trước, xuất trước

Hàng hóa được mua hoặc sản xuất sớm nhất được bán trước. Vì giá sản phẩm có xu hướng tăng lên theo thời gian, công ty sử dụng phương pháp FIFO sẽ bán các sản phẩm rẻ nhất của mình trước tiên, điều này dẫn đến giá vốn hàng bán thấp hơn so với phương pháp tính hàng tồn kho theo LIFO.

Do vậy, thu nhập ròng sử dụng phương pháp FIFO tăng lên theo thời gian.

  #2 LIFO – Nhập sau, xuất trước

Hàng hóa mới nhất được thêm vào kho được bán trước. Trong thời kỳ giá cả tăng cao, hàng hóa có chi phí cao hơn được bán trước, dẫn đến giá vốn hàng bán cao hơn. Theo thời gian, thu nhập ròng có xu hướng giảm dần.

  #3 Phương pháp chi phí trung bình

Giá trung bình của tất cả hàng hóa trong kho, bất kể ngày mua, được sử dụng để định giá hàng hóa đã bán. Lấy giá thành sản phẩm trung bình trong một khoảng thời gian có tác dụng ngăn chặn COGS khỏi bị ảnh hưởng cao bởi chi phí cực đoan của việc mua bán và sáp nhập hoặc mua hàng.

  #4 Phương pháp nhận dạng đặc biệt

Phương pháp xác định đặc biệt sử dụng chi phí cụ thể của từng đơn vị nếu hàng hóa (còn gọi là hàng tồn kho hoặc hàng hóa) để tính toán hàng tồn kho cuối kỳ và giá vốn hàng bán cho mỗi kỳ.

Khi sử dụng phương pháp này, doanh nghiệp cần biết chính xác mặt hàng nào đã được bán và chi phí chính xác. Hơn nữa, phương pháp này thường được sử dụng trong các ngành hàng độc biệt như ô tô, bất động sản và đồ trang sức quý hiếm.

Thời điểm ghi nhận giá vốn hàng bán

Theo định nghĩa ở đầu bài viết, giá vốn hàng bán là một khoản chi phí trực tiếp mà doanh nghiệp sử dụng để sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ.

theo nguyên tắc phù hợp, khi bạn ghi nhận 1 khoản doanh thu thì phải ghi nhận 1 khoản chi phí tương ứng vào cùng thời điểm đó.  Như vậy có nghĩa rằng giá vốn là khoản chi phí doanh nghiệp góp phần tạo ra doanh thu => Xác định thời điểm ghi nhận giá vốn cũng chính là xác định thời điểm ghi nhận một khoản doanh thu của doanh nghiệp.

Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng là thời điểm đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích của sản phẩm;
  • Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
  • Doanh thu đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
  • Xác định được các khoản chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Xem thêm: Hướng dẫn hạch toán giá vốn hàng bán